Quẻ Bát Thuần Càn 乾
Càn (trời) trên, Càn (trời) dưới
Sáu hào đều dương, tượng trời vận hành không nghỉ. Quẻ của người khởi xướng: có sức mạnh và tầm nhìn, nhưng phải biết thời mà tiến, biết đủ mà dừng.
Kinh Dịch · Chu Dịch
Mỗi quẻ ghép từ hai trong tám quái. Tra lời quẻ, tượng quẻ, ý nghĩa từng hào và cách ứng dụng khi xem công việc, tiền bạc, tình cảm.
11 quẻ
Càn (trời) trên, Càn (trời) dưới
Sáu hào đều dương, tượng trời vận hành không nghỉ. Quẻ của người khởi xướng: có sức mạnh và tầm nhìn, nhưng phải biết thời mà tiến, biết đủ mà dừng.
Cấn (núi) trên, Khảm (nước) dưới
Dưới núi có suối, nước mới ra còn đục. Quẻ của sự non nớt cần khai mở: người học phải thành tâm, người dạy phải nghiêm.
Khảm (nước) trên, Càn (trời) dưới
Mây đã lên trời mà chưa mưa. Quẻ của sự chờ đợi có chủ đích: đủ sức nhưng phía trước có hiểm, nên nuôi sức và đợi đúng lúc.
Càn (trời) trên, Khảm (nước) dưới
Trời đi lên, nước chảy xuống, hai bên trái chiều nhau. Quẻ của tranh chấp: có lý cũng nên dừng giữa chừng, theo tới cùng thì xấu.
Tốn (gió) trên, Càn (trời) dưới
Gió thổi trên trời, mây dày mà chưa thành mưa. Quẻ của sự kìm hãm nhẹ: sức mềm giữ được sức mạnh trong chốc lát, nên tích nhỏ và sửa mình.
Càn (trời) trên, Đoài (đầm) dưới
Trời ở trên, đầm ở dưới, trên dưới phân minh. Quẻ của cách cư xử: đi sau hổ, giẫm phải đuôi mà hổ không cắn, nhờ biết lễ và mềm mỏng.
Khôn (đất) trên, Càn (trời) dưới
Đất ở trên, trời ở dưới, hai khí giao hòa. Quẻ của thời thịnh: trên dưới thông suốt, việc lớn dễ thành, nhưng thịnh rồi sẽ có lúc suy.
Càn (trời) trên, Khôn (đất) dưới
Trời ở trên, đất ở dưới, hai khí quay lưng nhau. Quẻ của thời bế tắc: trên dưới không thông, người ngay khó tiến, nên giữ mình chờ chuyển.
Càn (trời) trên, Ly (lửa) dưới
Lửa bốc lên cùng hướng với trời. Quẻ của sự đồng lòng: tập hợp người ở nơi rộng mở, vì cái chung chứ không vì phe nhóm.
Ly (lửa) trên, Càn (trời) dưới
Mặt trời trên cao soi khắp muôn vật. Quẻ của sự có nhiều: được thời, được người, được của, cần sáng suốt và khiêm tốn để giữ.
Khôn (đất) trên, Cấn (núi) dưới
Núi cao mà nằm dưới đất. Quẻ của đức khiêm: có mà như không, cao mà tự hạ, nên đi đâu cũng được giúp; sáu hào không hào nào xấu.
Biết quái trên và quái dưới thì dò hàng và cột để ra quẻ. Hàng ngang là ngoại quái (thượng quái), cột dọc là nội quái (hạ quái).