Quẻ Thủy Lôi Truân 屯
Khảm (nước) trên, Chấn (sấm) dưới
Sấm động dưới nước, mầm non đội đất mà lên. Mọi khởi đầu đều rối ren, chưa nên vội, nhưng sự sống đang trỗi dậy.
Kinh Dịch · Chu Dịch
Mỗi quẻ ghép từ hai trong tám quái. Tra lời quẻ, tượng quẻ, ý nghĩa từng hào và cách ứng dụng khi xem công việc, tiền bạc, tình cảm.
6 quẻ
Khảm (nước) trên, Chấn (sấm) dưới
Sấm động dưới nước, mầm non đội đất mà lên. Mọi khởi đầu đều rối ren, chưa nên vội, nhưng sự sống đang trỗi dậy.
Cấn (núi) trên, Khảm (nước) dưới
Dưới núi có suối, nước mới ra còn đục. Quẻ của sự non nớt cần khai mở: người học phải thành tâm, người dạy phải nghiêm.
Khảm (nước) trên, Càn (trời) dưới
Mây đã lên trời mà chưa mưa. Quẻ của sự chờ đợi có chủ đích: đủ sức nhưng phía trước có hiểm, nên nuôi sức và đợi đúng lúc.
Càn (trời) trên, Khảm (nước) dưới
Trời đi lên, nước chảy xuống, hai bên trái chiều nhau. Quẻ của tranh chấp: có lý cũng nên dừng giữa chừng, theo tới cùng thì xấu.
Khôn (đất) trên, Khảm (nước) dưới
Nước ẩn trong lòng đất như quân ẩn trong dân. Quẻ của tổ chức đông người: cần mục tiêu chính đáng, người cầm đầu vững vàng và kỷ luật rõ ràng.
Khảm (nước) trên, Khôn (đất) dưới
Nước trên mặt đất, thấm vào nhau không kẽ hở. Quẻ của sự gắn bó: chọn đúng người để theo, đến sớm thì được, đến muộn thì lỡ.
Biết quái trên và quái dưới thì dò hàng và cột để ra quẻ. Hàng ngang là ngoại quái (thượng quái), cột dọc là nội quái (hạ quái).